Trang chủChuyên đềChính sách, pháp luật - quan hệ lao động
Chính sách, pháp luật - quan hệ lao động
Cập nhật lúc 09:34 16/05/2020 (GMT+7)
Đại dịch Covid-19: Việc làm của người lao động và tương lai phát triển của Việt Nam

Đại dịch Covid-19 bùng phát ở Trung Quốc từ trung tuần tháng 11/2019, đến nay đã lan ra 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với tổng số ca nhiễm lên hơn hơn 1 triệu người và hơn 50.000 người tử vong .

Việt Nam dù chưa phải là nước có số ca nhiễm cao nhưng cũng đủ để Chính phủ, doanh nghiệp và người lao động cảm nhận tác động của nó to lớn đến chừng nào. Ngày 01/4/2020, Thủ tương Chính phủ đã công bố dịch Covid-19 trên toàn quốc, thực hiện “toàn dân chống dịch”. Bài viết đề cập về tác động của Đại dịch Covid-19 đến việc làm của người lao động và đôi điều suy nghĩ về mô hình phát triển của Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong tương lai.

Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động cùng trên một con thuyền

Diễn biến của dịch Covid-19 và tác động của nó trong mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội cho thấy Covid-19 không chỉ đơn thuần là một dịch bệnh mà là sự kết hợp giữa thảm họa tự nhiên với sụt giảm kinh tế cùng xảy ra một lúc. Tất cả các ngành nghề, dường như không có ngoại lệ, đều bị ảnh hưởng: y tế, giáo dục, giao thông vận tải đường bộ, đường hàng không, khách sạn, nhà hàng, dịch vụ du lịch, giải trí, doanh nghiệp dệt may, da giày, chế biến gỗ, nông nghiệp xuất khẩu, sàn xuất, chế biến hàng tiêu dùng như bia, rượu, nước giải khát, v.v…. Các biện pháp hữu hiệu và đồng bộ được đưa ra, bao gồm khai báo, vệ sinh, diệt trùng vùng có dịch, tuyên truyền các biện pháp bảo vệ cá nhân, hạn chế đi lại và tụ tập đông người, hạn chế nhập cảnh với người nước ngoài, cách ly những người tiếp xúc với người bệnh, cách ly toàn xã hội… , cùng với đó là tiêu dùng giảm trên bình diện quốc gia và quốc tế, từ đó giảm sản xuất, giảm cung cấp hàng hóa và dịch vụ. Vì vậy, giảm giờ làm việc, giãn việc, nghỉ phép năm, nghỉ không lương chờ việc và cho thôi việc là những giải pháp ứng phó mà nhiều doanh nghiệp thực hiện lúc này, dù ít hay nhiều, dù muốn hay không bởi không có sự lựa chọn.

Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, trong điều kiện khó khăn, người sử dụng lao động có thể chuyển người lao động sang một công việc khác, với mức lương không thấp hơn 85% so với lương hiện tại và không quá 60 ngày cộng dồn trong một năm. Trường hợp thứ hai, các bên có thể thỏa thuận nghỉ việc không hưởng lương nhưng nếu người lao động không đồng ý thì không áp dụng.Trường hợp thứ ba, doanh nghiệp có thể áp dụng trả lương ngừng việc vì lý do hoạt động sản xuất kinh doanh bị ngưng trệ và các bên thỏa thuận thời gian ngừng việc cũng như tiền lương ngừng việc, nhung không thấp hơn mức lương tối thiểu do chính phủ quy định. Trong thực tế, đồng hành cùng doanh nghiệp, nhiều người lao động hiểu khó khăn của doanh nghiệp nên vui lòng chấp nhận luân phiên ngừng việc hoặc nghỉ không lương để giúp doanh nghiệp vượt qua, mặc dù rất nhiều người lao động lâm vào khốn khó bởi mọi chi tiêu của gia đình chỉ dựa vào đồng lương của họ.

Giảm việc làm xảy ra ở hầu hết các địa phương. Tại các địa phương có số ca nhiễm cao như Hà Nội, TP.HCM, Vĩnh Phúc, Bình Thuận và Quảng Ninh[1], người lao động bị ảnh hưởng nhiều hơn. Đến ngày 3/4/2020, theo thống kê của Bộ Y tế, Việt Nam đã có 233 người nhiễm, bao gồm cả người Việt Nam và người nước ngoài, trong đó đã có 85 trường hợp bình phục.[2] Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, phải thu hẹp sản xuất kinh doanh hoặc tạm ngừng hoạt động. Có những tỉnh như Vĩnh Phúc, hoạt động của doanh nghiệp bị giảm sút từ 20-50% doanh thu so với cùng kỳ, nhất là trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ và các doanh nghiệp phụ thuộc nguyên phụ liệu từ thị trường Trung Quốc.[3] Ở Hà Nội, chỉ trong 2 tháng đầu năm 2020 đã có trên 9.000 hộ kinh doanh trên địa bàn phải giải thể, đóng cửa và tạm nghỉ kinh doanh, trong đó hơn 3.000 hộ buộc phải tạm ngưng, bỏ kinh doanh.[4] Thành phố Hồ Chí Minh chỉ trong tháng 1/2020 đã có 3.684 doanh nghiệp dừng hoạt động.[5] Ở những địa phương không có người nhiễm, doanh nghiệp vẫn bị ảnh hưởng bởi phụ thuộc vào thị trường hàng hóa và nguyên liệu bên ngoài. Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chỉ trong 2 tháng đầu năm 2020 đã có tới 16.151 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đó, 2.807 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể.[6] Doanh nghiệp bị ảnh hưởng, dừng hoạt động, phá sản, giải thể nghĩa là việc làm của người lao động bị ảnh hưởng. Số người thất nghiệp nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp tăng lên rõ rệt trong tháng 2-2020, với trên 47.000 người nộp hồ sơ, tăng 59,2% so với tháng 01/2020 (gần 30.000 người) và tăng 70% so với cùng kỳ năm ngoái (gần 28.000 người); riêng tại TP.HCM, có 9.872 người nộp hồ sơ, tăng gần 4.500 người (80%) so với tháng 01/2020 và tăng hơn 3.600 người (57%) so với cùng kỳ năm ngoái.[7]

Chừng nào Covid-19 chưa ngừng lây lan thì việc làm của người lao động còn bị ảnh hưởng và sẽ càng nặng nề hơn – hiện đang là vấn đề đau đầu của cả doanh nghiệp, chính phủ và người lao động. Khảo sát của Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ), nếu dịch bệnh kéo dài 6 tháng, sẽ có hơn 60% doanh nghiệp bị giảm trên 50% doanh thu, gần 29% doanh nghiệp bị giảm 20-50% doanh thu.[8] Trong giai đoạn đầu Covid-19 ở Việt Nam, Chính phủ đặt mục tiêu thực hiện bằng được “nhiệm vụ kép” - vừa phòng chống dịch, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trước thực tế trên, cho đến thời điểm này, nhiệm vụ kép dường như không thể đạt được.

 

Nguồn: Bộ Y tế[9]

Hành động nhanh và tích cực của các bên liên quan

Việc làm của người lao động bắt đầu bị ảnh hưởng mạnh kể từ khi ca nhiễm thứ 17 xuất hiện đầu tháng 3/2020, tức là Việt Nam bước vào giai đoạn 2 của cuộc chiến chống dịch. Hiện nay, Việt Nam đã ở giai đoạn 3, giai đoạn chống dịch trên toàn quốc.  Với Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 11/3/2020, Chính phủ đã điều chỉnh mục tiêu từ thực hiện “nhiệm vụ kép” sang ưu tiên bảo vệ tốt nhất sức khỏe và tính mạng của nhân dân, sẵn sàng hy sinh lợi ích kinh tế để đẩy mạnh phòng, chống dịch COVID-19.

Với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, cả hệ thống chính trị vào cuộc. Các phương án hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động nhanh chóng được đưa ra. Bộ, ngành, địa phương trong phạm vi và lĩnh vực quản lý của mình thực hiện rà soát ban hành theo thẩm quyền việc giảm phí, lệ phí đối với các đối tượng chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Bộ Y tế triển khai các chương trình khám, chữa bệnh rộng rãi, lập các bệnh viện dã chiến ở những nơi xác định là ổ dịch hoặc nguy cơ cao, thực hiện hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho hộ gia đình có mức sống trung bình,…[10] Ngân hàng Nhà nước đưa ra các biện pháp hỗ trợ như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xem xét miễn giảm lãi vay, giảm phí... đối với doanh nghiệp gặp khó khăn, trước hết là gói hỗ trợ tín dụng khoảng 250.000 tỷ đồng[11]. Bộ Tài chính trình Chính phủ việc kích thích tài khóa thông qua miễn, giảm thuế, phí, lệ phí cho các đối tượng bị ảnh hưởng, nâng gói hỗ trợ từ 30.000 tỷ đồng lên 150.000 tỷ đồng.[12] Bộ Giao thông vận tải trình Chính phủ việc cắt giảm thủ tục hành chính, giảm chi phí logistics hàng hải, hàng không, đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt...[13]Bộ Công Thương trình Chính phủ biện pháp bảo đảm nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh và phương án tổ chức sản xuất, phân phối, lưu thông, cung ứng hàng hóa, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, củng cố thị trường nội địa, hỗ trợ cho hoạt động bán lẻ,…, giảm giá điện 10% và hỗ trợ giá dịch vụ viễn thông khoảng 15.000 tỷ đồng.[14] Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chủ động xây dựng phương án tạm dừng đóng BHXH vào quỹ hưu trí và tử tuất đối với những doanh nghiệp có trên 50% người lao động bị ảnh hưởng do tác động của dịch COVID-19.[15] Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp phải tạm cho người lao động ngừng việc, giải pháp đào tạo được nhiều người sử dụng lao động lựa chọn để không “lãng phí” thời gian này. Từ giữa tháng 3/2020, Tổng cục giáo dục nghề nghiệp đã hướng dẫn chi tiết và cụ thể về ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức đào tạo trực tuyến như học tập trực tuyến (e-learning), quản lý học tập trực tuyến (LMS - Learning Management System),…vừa là giải pháp trước mắt nhưng vừa là lợi ích lâu dài.[16] Rất nhiều gói hỗ trợ cho người lao động và đảm bảo an sinh xã hội được đưa ra để hỗ trợ cho những người bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, như hỗ trợ trực tiếp 1 triệu đồng/người/tháng cho người lao động nghèo, người lao động tự do không có hợp đồng, người mất việc hoặc không có việc làm; hỗ trợ 500.000 đồng/người/tháng cho một bộ phận đối tượng bảo trợ xã hội.[17] Như vậy, các biện pháp đồng bộ và xuyên suốt đã được Chính phủ tính toán và dự phòng cho cả trường hợp xấu nhất.

Là tổ chức đại diện bảo vệ người lao động, Công đoàn Việt Nam đã tích cực, chủ động nắm bắt tình hình, cùng doanh nghiệp bàn biện pháp tháo gỡ khó khăn và động viên người lao động chung tay vượt khó. Rất kịp thời và rất thiết thực, tổ chức công đoàn đã quyết định lùi thời điểm đóng kinh phí công đoàn 6 tháng đầu năm 2020 sang nửa sau của năm với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng (doanh nghiệp có số lao động đang tham gia BHXH phải tạm thời nghỉ việc từ 50% trong tổng số lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trở lên) và sau sáu tháng, nếu doanh nghiệp còn tiếp tục khó khăn, thời gian sẽ được lùi đến cuối năm 2020.[18] Đồng thời, các cấp công đoàn nhanh chóng tuyên truyền để người sử dụng lao động và người lao động nắm rõ Hướng dẫn số 1133/BYT-MT ngày 09/3/2020 của Bộ Y tế về phòng, chống dịch tại nơi làm việc, ký túc xá, khu nhà trọ …; vận động người lao động chủ động tự thực hiện các giải pháp phòng, chống dịch, thực hiện nghiêm khai báo y tế bắt buộc và cách ly theo quy định nhằm ngăn chặn triệt để, đảm bảo an toàn tại nơi làm việc và quyết tâm không để dịch bệnh lây lan trong công nhân lao động; đề xuất với doanh nghiệp về các biện pháp đảm bảo môi trường làm việc an toàn, các biện pháp xử lý khi thấy hiện tượng bất thường hay phát hiện người nhiễm bệnh, đề xuất trang bị phương tiện bảo vệ cho người lao động như khẩu trang, nước rửa tay diệt khuẩn,…. Các giải pháp hỗ trợ người lao động về trông giữ, quản lý con trong thời gian học sinh nghỉ học cũng được các cấp công đoàn quan tâm để người lao động giữ được việc làm thường xuyên, liên tục. Trên tinh thần “tương thân tương ái”, công đoàn các cấp, tùy theo tình hình cụ thể ở địa phương, đã tổ chức quyên góp trong đoàn viên và người lao động tham gia ủng hộ chương trình phòng chống dịch Covid-19, hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Nhưng trên hết, với vai trò đại diện bảo vệ cho người lao động, các cấp công đoàn luôn theo dõi sát sao và giám sát bảo đảm các doanh nghiệp tuân thủ các quy định về quyền lợi và chế độ đối với người lao động trong trường hợp phải áp dụng biện pháp ngừng việc và cho thôi việc; cố gắng đảm bảo giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp, chế độ nghỉ phép năm, trợ cấp ốm đau, hỗ trợ khó khăn… để giảm bớt khó khăn cho người lao động; đồng thời đề xuất với doanh nghiệp và chính phủ hỗ trợ, giúp đỡ đào tạo lại cho người lao động để họ chuyển đổi nghề nghiệp và thích nghi với tình hình mới.

Bài học cho tương lai về mô hình phát triển

Đại dịch Covid-19 cho thấy rõ điểm yếu về mô hình phát triển của Việt Nam. Kinh tế Việt Nam hiện tại đang phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu thành phẩm và nhập khẩu nguyên liệu, trong đó thị trường xuất khẩu sản phẩm chính là Mỹ, châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, và thị trường nhập khẩu nguyên liệu chính là Trung Quốc và Hàn Quốc. Các sản phẩm xuất khẩu lại chủ yếu là sản phẩm gia công lắp ráp trong các ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày, điện tử, chế biến gỗ,…. Hơn nữa, trong các doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu ở Việt Nam, có tới 70% là doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI). Như vậy, từ nhà sản xuất, tới nguyên liệu và tiêu thụ hàng hóa, Việt Nam đều phụ thuộc lớn vào bên ngoài và chỉ cần một “cú sốc” từ bên ngoài thì kinh tế Việt Nam sẽ chao đảo. Covid-19 cho thấy nhiều doanh nghiệp phải ngừng sản xuất và hàng ngàn, chục ngàn, thậm chí có thể sẽ lên tới hàng triệu người lao động phải ngừng việc chỉ vì thiếu nguyên liệu đầu vào và không xuất khẩu được cho thị trường quốc tế.

Sam Sung là ông lớn đóng góp cho xuất siêu của Việt Nam năm 2019, và nếu tách xuất khẩu của Sam Sung ra, Việt Nam ngay lập tức trở thành nhập siêu.[19] Sam Sung hiện nay sử dụng tới 100 ngàn công nhân ở Việt Nam[20] trong khi tỷ lệ nội địa hóa chỉ là 5-10%.[21] Dịch Covid-19 hiện bùng phát mạnh ở Hàn Quốc, và nếu không được khống chế sớm thì những ông lớn của ngành điện tử như Samsung cũng bị ảnh hường. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong hai tháng đầu năm nay, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam chỉ bằng 76,4% so với cùng kỳ năm 2019. Nếu không tính các dự án lớn (dự án đầu tư mới 4 tỷ USD tại Bạc Liêu và trường hợp góp vốn, mua cổ phần của Beerco vào Beverage) thì tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài hai tháng đầu năm 2020 chỉ bằng 53,4% so với cùng kỳ 2019. Số lượt dự án đăng ký mới cũng như điều chỉnh mở rộng quy mô dự án đều giảm (97,3% và 85,8% so với cùng kỳ).[22]

Đó mới là do Covid-19 chứ chưa nói tới yêu cầu khắt khe của các FTA thế hệ mới mà Việt Nam tham gia như Hiệp định đối tác tiến bộ và toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA). Với đòi hỏi cao về nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa và tiêu chuẩn hàng hóa xuất khẩu, các FTA thế hệ mới sẽ có thể ảnh hưởng tới xuất khẩu của Việt Nam.

Covid -19 là vi-rút chết người, nhưng lại là vi-rút cảnh tỉnh về một mô hình phát triển chưa bền vững khi phụ thuộc quá mức vào bên ngoài, và nếu tiếp tục duy trì trong tương lai, Việt Nam sẽ còn chịu hậu quả lớn hơn khi ngày càng không làm chủ được sự phát triển kinh tế của mình.

Kết luận

Covid-19 cho thấy sự đồng lòng của toàn dân cùng với chính phủ chống dịch và vì thế, chúng ta tin tưởng vào kết quả của sự đồng lòng ấy là: Covid-19 sẽ bị ngăn chặn. Theo khảo sát của Dalia, một nền tảng nghiên cứu quốc tế công bố ngày 30/3/2020, 62% người Việt Nam tin tưởng vào các biện pháp chống dịch của Chính phủ - một tỷ lệ cao nhất trên thế giới.[23] Dù kết quả như thế nào đi nữa thì đó cũng là niềm tin vững chắc của người dân. Covid-19 rồi sẽ qua đi nhưng liệu chúng ta có thể có được sự đồng lòng về điều chỉnh mô hình phát triển: giảm bớt phụ thuộc vào xuất khẩu hàng hóa, giảm bớt phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu, phát triển nội lực trong sản xuất kinh doanh để giảm bớt phụ thuộc FDI, giảm bớt dựa vào thâm dụng lao động, từ đó giảm giờ làm việc để người lao động có thời gian học tập nâng cao trình độ, phát triển ngành nghề mới, tăng cường đầu tư cho giáo dục, đào tạo nghề để chuẩn bị nguồn nhân lực cho thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư,…Chỉ có như vậy, kinh tế Việt Nam mới có thể đứng vững trên đôi chân của mình trước bất kỳ cú sốc kinh tế hay dịch bệnh nào mà, từ kinh nghiệm quá khứ, chắc chắn sẽ còn tiếp tục xảy ra trong tương lai.

TS. Phạm Thu Lan

Viện Công nhân và Công đoàn



 

In
Về đầu
Tin Công đoàn
Lượt truy cập: